Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Giảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Giảng. Hiển thị tất cả bài đăng


Ðó là chữ thường thấy trong Tân, Cựu Ước: hoặc dùng để chỉ về người cho ân điển, hoặc chỉ về Chúa ban ân điển.

Ân điển của Chúa là lời nói, việc làm Ngài tỏ ra có tánh chất yêu thương người, chẳng những yêu thương người lành, mà cả kẻ dữ nữa.

Ân điển rõ hơn hết tức là cái ơn cứu rỗi. Ðức Chúa Trời là Ðấng Toàn năng thương xót, nhơn lành, dung thứ, nhịn nhục, thành thực ban ân điển cho người ta đến hàng ngàn đời, tha thứ hết mọi tội lỗi (Xuất Ê-díp-tô ký 34:6, 7.).

Nay xét kỹ ý nghĩa về chữ ân điển nầy, rồi chia làm hai phần mà nói:

I. Cựu Ước.

Luật pháp đã ban cho bởi Môi-se; còn ân điển và chân lý thì đến bởi Chúa Jêsus Christ (Giăng 1:17).

Dầu vậy, Cựu Ước cũng có Ðức Chúa Trời tha tội người ta là vì ban cho ân điển, chớ không phải vì theo luật pháp (Thi Thiên 32:; 130:;143:).

Thủy tổ dầu phạm tội, song Chúa vẫn ban ơn, hứa cho hưởng ân điển (Sáng thế ký 3:14, 21);
Nô-ê được ơn (Sáng thế ký 6-8);
Áp-ra-ham cũng được ơn (Sáng thế ký 15:1, 8);
Môi-se cũng được ơn (Xuất Ê-díp-tô ký 33:17);
Y-sơ-ra-ên, dân lựa chọn, cũng được ơn (Xuất Ê-díp-tô ký 19:5).
Các tiên tri làm sách cũng chú trọng đến ân điển, hằng nói Ðức Chúa Trời đãi người Y-sơ-ra-ên có ân điển vô cùng (Ê-sai 63:7).
Dẫu Chúa phải nổi giận vì họ phạm tội, song Ngài cũng đem lòng thương xót (Ga-la-ti 3:31,32; Giô-ên 2:13; Mi-chê 7:18, 19; Ha-ba-cúc 3:2). Tiếc rằng họ luôn được ơn Chúa, nhưng thường hay phụ nghĩa vong ân (Ê-sai 43:21-25; 44:1-5; 48:8-11; Giê-rê-mi 18:8-11; Ê-xê-chi-ên 16: và coi thêm Thi Thiên 78:).

II. Tân Ước.

Chữ "ân điển" nói trong Tân Ước đáng chú trọng hơn trong Cựu Ước; vì Phao-lô thích dùng chữ "ân điển" nầy lắm. Thơ của Phao-lô thường thường dùng "ân điển" làm lời mở đầu và kết luận. Chữ "ân điển" đó là nói gồm hết ích lợi mà Ðức Chúa Trời đã nhơn Ðấng Christ mà ban cho. Chữ "ơn" nói trong bốn sách Tin Lành không phải chỉ về ý như Phao-lô đã nói, trừ ra Giăng 1:14-17.

Trong sách Sứ đồ có vài chỗ nói đến ân điển thấy gần giống ý của Phao-lô; song xét ra chưa chắc đã không có nơi khác (Công vụ các sứ đồ 6:8; 11:23; 13:43;14:3; 15:11; 20:24, 32).
Thơ Hê-bơ-rơ, I Phi-e-rơ, II Phi-e-rơ, Giu-đe, II Giăng, Khải Huyền đều có chữ ân điển đó.

Luận về ân điển ấy, có hai chỗ cần yếu là Tít 2:11-14; Rô-ma 5:16, ta nên tra cứu kỹ càng. Phao-lô đi Ða-mách, giữa đường gặp Chúa, mới hiểu thấu ân điển lớn lao của Ngài (I Cô-rinh-tô 15:9, 10; I Ti-mô-thê 1:13-16), nên ông cho việc làm chứng về ân điển trong đạo Tin lành là thiên chức của mình (Công vụ các sứ đồ 20:24).

Ân điển trái với tội lỗi.--  Ðức Chúa Trời lấy ân thắng tội (Rô-ma 5:20; 6:1, 15). Ấy vậy, điều mà luật pháp không thể làm trọn, thì ân điển làm cho được trọn (Rô-ma 7:7-8:4). Phao-lô luôn nói người xưng công bình được cứu là nhờ ân điển, chớ không phải nhờ theo luật pháp (Ê-phê-sô 2:8; Tít 2:11; Rô-ma 4:2-8; 11:6; Ga-la-ti 2:16-21).

Vì luật pháp sanh ra sự giận, thế là trái nghịch với ân điển (Rô-ma 3:19-26; 4:15; Ga-la-ti 5:4). Vậy nên ai tin Chúa Jêsus, nấy được nhận lãnh ân điển và sự ban cho công bình (Rô-ma 5:17).
Phao-lô nói đến ân điển của Ðức Chúa Trời hai mươi hai lần, nói đến ân điển Ðấng Christ mười lăm lần, xét ra có bốn yếu chỉ nầy:

1. Ân điển Ðấng Christ là rất lạ: hạ mình, khiêm nhường (II Cô-rinh-tô 8:9; Phi-líp 2:5-8; Ga-la-ti 2:21).

2. Ân điển Ðấng Christ là được nhưng không chớ không phải phí tổn gì (Rô-ma 3:24; 4:4; 11:6; Ê-phê-sô 2:8).

3. Ân điển Ðấng Christ  thắng tội lỗi (Rô-ma 5:15, 20).
Có hai thuyết:

(a) Ân điển chẳng những tha tội, mà lại có thể xưng công bình (Ê-phê-sô 1:7; Rô-ma 3:24; 5:21; Ga-la-ti 2:21),

(b) Ân điển  cất bỏ cái ách tội lỗi (Rô-ma 6:14).

4. Ân điển Ðấng Christ giàu có không đo được (Ê-phê-sô 1:7; 3:8; Rô-ma 5:17; II Cô 4:15). Cho nên Phao-lô muốn nói bao gồm mọi thứ hạnh phước của Ðấng Christ trong một lời nầy: "Nguyền xin ơn của Ðức Chúa Jêsus Christ ở với anh em". (Rô-ma 16:20; I Cô-rinh-tô 16:23; Ga-la-ti 6:18; Phi-líp 4:23; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:28; II Tê-sa-lô-ni-ca 3:18; II Ti-mô-thê 4:22; Phi-lê-môn 25).

Tiến sĩ Scofield có lời ghi chú về Giăng 1:16 "ơn càng thêm ơn".

Tóm tắt lại:

I.   Ơn là "lòng nhơn từ của Ðức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình yêu thương của Ngài đối với mọi người...không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm..." (Tít 3:4, 5). Ấy vậy, ân điển vẫn trái với luật pháp, vì dưới luật pháp, Chúa đòi sự công bình nơi loài người, song dưới ân điển, Chúa ban sự công bình cho loài người (Rô-ma 3:21, 22; 8:4; Phi-líp 3:9).

Luật pháp can thiệp với Môi-se và việc làm ân điển can thiệp với Ðấng Christ và đức tin (Giăng 1:17; Rô-ma 10:4-10).

Luật pháp chúc phước người tốt lành; ân điển cứu rỗi người gian ác (Xuất Ê-díp-tô ký 19:5; Ê-phê-sô 2:1-9).

Luật pháp đòi phải làm để lãnh phước; ân điển là sự ban cho nhưng không (Phục truyền luật lệ ký 28:1-6; Ê-phê-sô 2:8; Rô-ma 4:4, 5).

II.   Thời đại ân điển:

 bắt đầu từ sự chết và sự sống lại của Ðấng Christ (Rô-ma 3:24-26; 4:24-25). Trung tâm điểm của sự thử biết thật được cứu rỗi không phải là vâng lời luật pháp, song là nhận hay chối Ðấng Christ với kết quả của sự cứu đó là những việc lành (Giăng 1:12, 13; 3:36; Ma-thi-ơ 21:37; 22:42; Giăng 15:22, 25; Hê-bơ-rơ 1:2; I Giăng 5:10-12).

Lúc đó, kết quả ngay của sự thử biết đó là người Do thái chối bỏ Ðấng Christ, và với người ngoại bang cùng đóng đinh Chúa trên cây thập tự (Công vụ các sứ đồ 4:27). Theo lời tiên tri, sự thử loài người trong thời đại ân điển nầy sẽ có kết quả là Hội Thánh bề ngoài sẽ chối bỏ chúa (II Ti-mô-thê 3:1-8:4:3-4), và bị đoán phạt như chép trong sách Khải Huyền v.v...   

III. Sự cứu rỗi được tỏ ra hai cách:

Trong sự cứu rỗi (Rô-ma 3:24) và trong sự bước đi hầu việc của người được cứu (Rô-ma 6:15). Có sáu thời đại khác nữa:

vô tội (Sáng thế ký 1:28);
lương tâm (Sáng thế ký 3:23);
loài người quản trị (Sáng thế ký 8:21);
lời hứa (Sáng thế ký 12: 1);
luật pháp (Xuất Ê-díp-tô ký 19:19);
nước Chúa (Ê-phê-sô 1:10).


Mục sư: Lê Văn Thái


  • Cựu ước là lịch sử của một dân tộc.
  • Tân ước là lịch sử của một Người.
    Dân tộc ấy đã được Ðức Chúa Trời tạo lập và trưởng dưỡng để đưa Người ấy vào thế giới.
Chính Ðức Chúa Trời đã trở nên một Người để ban cho loài người một ý niệm cụ thể, dứt khoát và hiển nhiên rằng khi chúng ta suy nghĩ về Ðức Chúa Trời, thì phải suy nghĩ về một Thân vị (Personne) thể nào. Ðức Chúa Trời giống như Ðức Chúa Jêsus. Ðức Chúa Jêsus là chính Ðức Chúa Trời hiện thân bằng hình người.
    Sự Ngài hiện ra trên địa cầu là biến cố quan trọng nhất của lịch sử. Cựu ước dựng sân khấu cho sự hiện ra. Còn Tân ước thì mô tả sự hiện ra đó.
    Là một Người, Ðức Chúa Jêsus đã sống cuộc đời đẹp đẽ, kỳ diệu hơn hết mà ta từng biết. Ngài là Người nhân ái hiền từ, nhu mì kiên nhẫn và có thiện cảm hơn hết từng sống ở trên đời. Ngài yêu thương người ta. Ngài chẳng ưa thấy họ bị hoạn nạn. Ngài thích tha thứ. Ngài thích cứu giúp. Ngài làm phép lạ để nuôi kẻ đói. Ðể cứu giúp kẻ đau khổ, hính Ngài đã quên cả ăn. Những đám đông mòn mỏi, tật bệnh và đau lòng đã đến cùng Ngài, được chữa lành và được cứu giúp. Có lời chép về Ngài, chớ không về một người nào khác, rằng: Nếu chép hết mọi việc từ thiện của Ngài, thì “cả thế gian không thể chứa hết các sách người ta chép” (Giăng 21:25). Ðức Chúa Jêsus là Người như vậy, và Ðức Chúa Trời là Thân vị như vậy.
    Rồi Ngài chịu chết trên thập tự giá để “cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29) và trở nên Cứu Chúa của loài người.
    Rồi Ngài từ kẻ chết sống lại, và bây giờ Ngài đang sống, chẳng phải chỉ là một vai trò trong lịch sử, nhưng là một Thân vị Hằng Sống, là Thực sự quan trọng nhất trong lịch sử, và là Lực lượng sanh động nhất của thế giới ngày nay.
    Cả Kinh Thánh được xây dựng chung quanh lịch sử tuyệt mỹ của Ðấng Christ cùng lời Ngài hứa ban Sự Sống Ðời Ðời cho những kẻ tin nhận Ngài. Kinh Thánh chép ra chỉ cốt để giúp người ta tin, hiểu, biết, yêu và theo Ðấng Christ.
Ðấng Christ là Trọng tâm và Trái Tim của Kinh Thánh, của lịch sử và cũng của đời sống chúng ta nữa. Số phận đời đời của chúng ta ở trong tay Ngài. Chúng ta tiếp nhận hoặc chối bỏ Ngài, thì sẽ quyết định cho mỗi người chúng ta được vinh hiển đời đời hoặc bị tàn hại đời đời, được lên thiên đàng hoặc phải xuống hỏa ngục.
    Sự quyết định quan trọng nhất mà mỗi người buộc phải có, ấy là trong lòng mình phải có lúc quyết định một lần đủ cả thái độ của mình đối với Ðấng Christ. Mọi sự tùy thuộc thái độ ấy.
Làm tín đồ Ðấng Christ là một điều vinh hiển. Ðó là đặc quyền tối cao của loài người. Quả thật, tiếp nhận Ðấng Christ làm Cứu Chúa, làm Chúa, làm Chủ, và thành tâm, tận tụy, cố gắng đi theo Ðường Sự Sống mà Ngài đã dạy, đó là cách sống hợp lý và mỹ mãn hơn hết. Làm vậy thì được bình an, yên trí, thỏa lòng, được tha thứ, hạnh phước, được hi vọng, được sự sống ngay bây giờ, trong đời nầy, sự sống dư dật, Sự Sống Chẳng Hề Hết.
Tại sao lại có người đui mù và câm điếc đến nỗi cứ trải qua đời nầy và đối mặt với Sự Chết, mà chẳng có hi vọng trong Ðấng Christ? Ngoài Ðấng Christ ra, há có gì, há có thể có gì trong đời nầy hoặc trong đời sau, làm cho cuộc đời đáng sống? Hết thảy chúng ta phải chết. Tại sao toan cười để đuổi sự chết đi? Mỗi người đáng phải giang tay hoan nghinh Ðấng Christ và kể sự được mang Danh Ngài là đặc quyền đáng kiêu hãnh nhứt của đời mình.
Sưu tầm net

Kinh Thánh: (Mathio 6:22-23)
Con mắt là đèn của thân thể. Nếu mắt ngươi sáng sủa thì cả thân thể ngươi sẽ được sáng láng; 23 nhưng nếu mắt ngươi xấu, thì cả thân thể sẽ tối tăm. Vậy, nếu sự sáng láng trong ngươi chỉ là tối tăm, thì sự tối tăm nầy sẽ lớn biết là dường bao!




Ms Quách Tâm


Kinh Thánh : Galati 2:5b, 14a, 16, 19, 20a; 3:11, 23-25; 4:2; 6:15
Trong Galati 2:5 và 14 Phao lô đề cập đến lẽ thật Phúc âm. Từ lẽ thật ở đây không có nghĩa là giáo lí hay sự dạy dỗ của phúc âm, mà chỉ về thực tại của phúc âm. Dầu chỉ là một sách ngắn, nhưng Galati đem lại cho chúng ta một khải thị tron vẹn về thực tại của phúc âm. Tuy nhiên ở đây không mang đến chi tiết, nhưng đem đến một số nguyên tắc cơ bản. Vì vậy chúng ta chỉ bàn đến những nguyên tắc cơ bản ấy.
I- Cơ Đốc Nhân Không Được Xưng Công Chính Bởi Kinh Luật.
Khía canh đầu tiên của phúc âm là con người sa ngã không thể được xưng công chính bởi công việc của kinh luật. Trong 2:16, Phaolo nói: “ Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng nghĩa(xưng công chính) chẳng bởi công việc của kinh luật đâu”. Và ở cuối câu ông nói: “Bởi chưng chẳng có xác thịt nào của xác thịt mà được xưng nghĩa cả”. Từ “xác thịt”trong 2:16 có nghĩa là con người sa ngã đã trở nên “xác thịt” (sáng 6:3). Hơn nữa trong 3:11 Phao-lô nói tiếp: “Vả, chẳng hề có ai cậy kinh luật mà được xưng công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm”. Tóm lại qua những câu Kinh Thánh này chúng ta biết con người được cứu không thể nhờ làm theo kinh luật.Ngày nay một số GHCĐ nhấn manh đến việc giữ ngày sabat cách nghiêm nhặt, việc dâng hiến 1/10. Tuy nhiên họ quên rằng vì cố giữ những luật này mà họ mắc nợ các điều răn khác. Tân ước nói ;nếu giữ tất cả mọi điều răn ngoại trừ một điều thì cũng vi phạm toàn bộ Kinh Luật (Gia 2:10). Rô ma chương 7 chứng minh chúng ta không thể nào giữ được các điều răn. Trong câu 7 Sứ đồ Phao Lô nói đến điều răn về sự ham muốn: “Vì nếu Kinh Luật không nói:’ngươi chớ tham dục (ham muốn)’, thì tôi không biết sự tham dục là gì”. Sau đó trong cau 8 ông nói tiếp:” Song tội lỗi đã nhân dịp bởi điều răn mà gây nên đủ thứ tham dục trong tôi”. Càng cố gắng giữ điều răn này, Phao Lô càng thất bại. Điều này cho thấy loài người sa ngã không thể giữ hết được các điều răn của Đức Chúa Trời. Thật buồn cười khi khi trở về cố gắng giữ Kinh Luật! Đơn giản là chúng ta không có khả năng giữ Kinh Luật. Trong Roma 7:14 Sứ đồ Phao Lô Kinh Luật là thuộc Linh còn chúng ta là xác thịt bị bán cho tội. Vì vậy, không xác thịt nào được xưng công chính nhờ công việc của Kinh Luật
II- Nhiệm Vụ Của Kinh Luật Là Để Canh Giữ Tuyển Dân Của Đức Chúa Trời Cho Đến Khi Đấng Christ Đến.
Vì biết rằng loài người sa ngã không thể giữ Kinh Luật, nên chúng ta có thể hỏi vậy tại sao Kinh Luật lại được ban cho? Đức Chúa Trời không có ý định ban Kinh Luật để con người tuân giữ. Khi Đức Chúa Trời ban Kinh Luật, Ngài biết loài người không thể tuân giữ Kinh Luật. Nếu Đức Chúa Trời muốn con người tuân giữ Kinh Luật thì tại sao sau khi tạo dựng Adam, Ngài không ban Kinh Luật . Mục đích Ngài ban Kinh Luật là dung Kinh Luật như người canh giữ dân Ngài cho đến khi Đấng Christ đến (3:23-24 ;4:2). Đức Chúa Trời có ý định dùng cái chuồng để nhốt chiên Ngài.
Có lẽ anh em thắc mắc tại sao Đấng Christ lại không đến sớm hơn. Tại sao Ngài không đến vào thời Moise? Nếu Đấng Christ đến lúc đó thì không cần có Kinh Luật. Tại sao Ngài không đến trước khi Kinh Luật được ban bố? Sứ đồ Phao Lô đã trả lời trong Roma 3:19-20: “ Vả, chúng ta biết rằng điều gì Kinh Luật nói là nói cho kẻ ở dưới Kinh Luật, hầu cho mọi miệng phải ngậm lại, và cả thế gian đều phải phục dưới sự xét đoán của Đức Chúa Trời. Bởi chưng, chẳng có xác thịt nào nhờ công việc Kinh Luật mà được xưng nghĩa (hay xưng công chính) trước mặt Ngài, vì do Kinh Luật mà ngưới ta biết tội”.
Trong Galati 3:19 Sứ đồ Phao Lô hỏi : “Vậy thì Kinh Luật để làm chi?”Cũng trong câu này ông trả lời câu hỏi của mình: “Kinh Luật đã đặt thêm vì có sự quá phạm”. Kinh Luật được ban cho để phơi bày con người là gì và tình trang hiện tại của họ ra sao. Cách tốt nhất để con người nhìn thấy tình trạng tội lỗi của họ qua ánh sáng ra từ thuộc tính của Đức Chúa Trời. Mười điều răn được viết ra chính yếu bao gồm bốn thuộc tính Thần thượng:Thánh khiết, công chính, sự sáng và tình yêu. Đức Chúa Trời là Thánh khiết và công chính nhưng cũng là ánh sang và tình yêu. Vì lí do này, Kinh Luật trở nên chứng cớ của Đức Chúa Trời. Nói cách khác Mười điều răn làm chứng rằng Đức Chúa Trời công chính và Thánh khiết, Ngài cũng là sự sang và tình yêu. Đức Chúa Trời dùng chứng cớ này để phơi bày con người. Khi con người đứng trước chứng cớ này tình trạng tội lỗi của họ được phơi bày. Bây giờ chúng ta xem khi Kinh Luật được ban ra, con cái Isorael hứa vâng giữ các điều răn của Ngài (Xuất 19:8). Trước khi con cái Isorael đáp ứng chúng ta thấy bầu không khí xung quanh núi Sinai không? (có v3) đe dọa. Nhưng khi họ tuyên bố mình sẽ vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, thì bầu không khí thay đổi và trở nên khủng khiếp. Sự Thánh khiết của Đức Chúa Trời bày tỏ ra và con người không được phép đến gần hơn. Sợ hãi trước sự Thánh khiết của Đức Chúa Trời phát lộ, dân chúng xin Moise thay mặt họ đến gần Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy chức năng của Kinh Luật là phơi bày con người sa ngã.
Khi Kinh Luật thực hiện chức năng phơi bày con người, nó cũng gìn giữ họ. Do đó Đức Chúa Trời dùng Kinh Luật để làm người canh giữ, gìn giữ dân Ngài, cũng như cái chuồng giữ bầy chiên vào mùa đông hay dông bão. Thời đại trước khi Đấng Christ đến được ví như mùa đông, vì vậy Đức Chúa Trời dùng Kinh Luật như cái chuồng để canh giữ dân Ngài. Trong tình trang thiếu hiểu biết, người Do thái cho rằng Kinh Luật ban ra là để họ vâng giữ. Họ không biết Kinh Luật ban ra là để tam canh giữ dân Ngài. Sứ đồ Phao Lô đã làm sang tỏ vấn đề này trong Galati 3:23: “Vả, trước khi đức tin chưa đến, chúng ta bị canh giữ dưới Kinh Luật, nhốt lại cho đến khi đức tin phải hiển hiện”. Câu 24 ông tiếp: “Dường ấy, Kinh Luật là giáo sư của chúng ta để dẫn chúng ta đến Christ, hầu cho chúng ta đước xưng nghĩa bởi đức tin”. Qua những câu Kinh Thánh này Sứ đồ Phao Lô muốn chúng ta hiểu rõ chức năng của Kinh Luật là người canh giữ. Khi phơi bày sự vi phạm của con người, Kinh Luật canh giữ dân của Đức Chúa Trời cho đến khi Đấng Christ đến.
Bây giờ Đấng Christ đã đến, nên Kinh Luật chấm dứt (tham khảo Mat 5:18 và Gi 19:30). Nhưng những người Do Thái khờ dại muốn trở lại với Kinh Luật và cố gắng tuân giữ. Họ không hề biết chức năng của Kinh Luật có tính cách thời đại, khi chức năng này hoàn thành thì Kinh Luật không cần phải lưu lại nữa.
III- Kinh Luật Chấm Dứt Sau Khi Đấng Christ Đến
Sứ đồ Phao Lô tiếp tục giải thích trong Galati 3:25 “Nhưng nay đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới giáo sư ấy nữa”. Vì Đấng Christ đã đến, Kinh Luật phải chấm dứt. Bây giờ Đấng Christ đến, mục đích của Đức Chúa Trời trong việc ban Kinh Luật đã hoàn thành. Kinh Luật đã giao dân của Đức Chúa Trời cho Đấng Christ, Giựt lấy người ta khỏi Đấng Christ dẫn họ trở về với Kinh Luật là nổi loạn chống lại mục đích của Đức Chúa Trời. Ngày nay nhiều người xưng là “Đầy tớ Chúa” cũng như nhiều Giáo Hội Cơ Đốc vẫn bám lấy Kinh Luật và dùng nó để dạy dỗ con cái Chúa ( Ăn gì, dâng phần mười…vv).
IV- Trong Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời
“Từ ngữ “gia-tể”, được dùng trong tựa đề này, xem ra có phần xa lạ đối với độc giả. Thật ra, từ ngữ “gia tể của Đức Chúa Trời” được trích từ thư 1 Ti-mô-thê 1:4 như đã được chép trong nguyên ngữ Hy-lạp. Chữ “gia tể” là từ chữ Hy-lạp “oikonomia” mà ra. Ý nghĩa chính của từ ngữ này là sự quản trị có tính cách gia đình, sự quản lý thuộc gia đình, sự xếp đặt và phân phát hay sự ban phát (về tài sản, của cải hay về công việc kinh doanh v.v…) Từ ngữ này được dùng với ý định nhấn mạnh đến trọng tâm của một kế hoạch thần thượng của Đức Chúa Trời, ấy là để phân phát hay ban phát chính mình Ngài vào trong con người”.
1- Con Người Được Xưng Công Chính Bởi Đức Tin Nơi Đấng Christ.
Trong gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời, chúng ta không phải giữ Kinh Luật. Trái lại, chúng ta được xưng Công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ (Ga2:16). Có lẽ chúng ta quá quen thuộc với cụm từ “được xưng Công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ” đến nỗi mặc nhiên chấp nhận cụm từ này. Nhưng đức tin nơi Đấng Christ nghĩa là gì? và được xưng Công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ có nghĩa là gì? Đức tin nơi Đấng Christ chỉ về sự liên hiệp hữu cơ qua việc tin. Rao giảng Phúc Âm đúng đắn không phải là rao giảng giáo lý, mà là rao giảng thân vị của Con Đức Chúa Trời (Ga 1:15,16). Con Đức Chúa Trời là hiện thân của Cha và được thực tại hóa là Linh. Rao giảng Phúc Âm là rao giảng Thân Vị này. Dù đề tài sứ điệp là gì chăng nữa nhưng chúng ta cần giúp người nghe có ấn tượng về Thân vị sống của Con Đức Chúa Trời.
Đức tin nơi Đấng Christ mà nhờ đó tín đồ được xưng công chính, có liên quan đến việc họ đánh giá cao Thân vị sống của Con Đức Chúa Trời. Chẳng hạn một nhân viên bán hàng giới thiệu về đá quí cách khéo léo, họ càng nói thì người nghe càng cảm thấy sự quí giá của loại đá đó. Khi rao giảng Phúc Âm cũng vậy, chúng ta cần giúp cho người nghe hiểu sự quí báu của Đấng Christ là hơn hẳn mọi vật quí, nếu ai có Đấng Christ là có tất cả mọi sự vì “Ngài là mọi sự trong mọi loài”. Chúng ta càng mô tả Ngài, càng nói về Ngài cách quí báu thì điều gì đó được truyền vào trong bản thể người nghe. Sự truyền dẫn này sẽ trở nên đức tin của họ, và đức tin này sẽ làm cho họ đáp ứng với lời rao giảng của chúng ta. Bằng cách đó, họ sẽ đánh giá cao Thân vị mà chúng ta trình bày. Việc đánh giá cao như vậy là đức tin của họ nơi Đấng Christ. Do sự đánh giá cao Chúa Giê-Xu, nên họ sẽ muốn sở hữu Ngài. Đức tin là Đấng Christ được rao giảng vào trong chúng ta để trở nên khả năng tin của chúng ta do chúng ta đánh giá cao về Ngài.
Chúng ta có thể chưng dẫn Hê 11:1 về đức tin, nhưng đây chỉ là vấn đề giáo lý. Định nghĩa về đức tin theo kinh nghiệm thực sự là: đức tin là tính chất quí báu của Đấng Christ được truyền vào cho chúng ta. Nhờ sự truyền dẫn ấy, tự phát chúng ta có đức tin nơi Chúa Giê-Xu. Định nghĩa này về đức tin phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta. Dạy dỗ giáo lý sẽ không mang lại ấn tượng về Thân Vị sống của Con Đức Chúa Trời. Nhưng khi tính chất quí báu của Đấng Christ được truyền dẫn vào người nghe qua việc rao giảng Phúc Âm, tự phát người nghe quí mến Chúa Giê-Xu và tin Ngài. Khi một người nói: “Chúa Giê-Xu ơi con yêu Ngài, con quí trọng Ngài”, thì đó là ý nghĩa của việc có đức tin nơi Đấng Christ.
Đức tin này tạo nên sự liên hiệp hữu cơ trong đó chúng ta và Đấng Christ là một. Vì vậy, cụm từ: “nhờ đức tin đến (trong) Christ thật ra chỉ về sự liên hiệp hữu cơ được hoàn thành bởi tin Đấng Christ. Từ đến (trong) Đấng Christ chỉ về sự liên hiệp hữu cơ này. Trước khi tin Đấng Christ có một sự phân cách lớn giữa chúng ta và Ngài; chúng ta là chúng ta và Đấng Christ là Đấng Christ. Nhưng bởi tin, chúng ta được liên hiệp với Ngài và trở nên một với Ngài. Bây giờ, chúng ta ở trong Đấng Christ và Đấng Christ ở trong chúng ta. Đó là sự liên hiệp hữu cơ, liên hiệp trong sự sống. Sự liên hiệp này được minh họa như việc tháp ghép một nhánh cây vào một thân cây khác. Bởi đức tin nơi Đấng Christ chúng ta được ghép vào Ngài. Qua quá trình tháp ghép thuộc linh này hai cuộc sống được tháp lại và trở nên một. Nhiều Cơ Đốc Nhân hiểu biết nông cạn về sự xưng công chính bởi đức tin. Làm thế nào Đấng Christ trở nên sự công chính của chúng ta nếu chúng ta không liên hiệp với Ngài một cách hữu cơ? Nhờ sự liên hiệp hữu cơ với ĐẤNG CHRIST mà Đức Chúa Trời kể Đấng Christ là sự công chính của chúng ta. Vì chúng ta và Đấng Christ là một, nên bất cứ điều gì thuộc về Đấng Christ là thuộc về chúng ta. Đó là cơ sở mà Đức Chúa Trời kể Đấng Christ là sự công chính của chúng ta. Vấn đề hôn nhân có thể minh họa vấn đề này, mặc dù chưa đầy đủ; Giả sử một người nữ nghèo nàn kết hiệp với một người nam giàu có trong hôn nhân. Qua việc kết hợp đó cô được hưởng tài sản của chồng mình. Cũng một lẽ đó qua sự kết hiệp với Đấng Christ chúng ta được thừa hưởng tất cả những gì Đấng Christ là và có. Ngay khi sự liên hiệp này xảy ra, theo cách nhìn của Đức Chúa Trời, Đấng Christ trở nên chúng ta và chúng ta được trở nên một với Ngài. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời.
Như đã nêu trên, để được xưng công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ, chúng ta cần phải tin Chúa Giê-Xu xuất phát từ việc đánh cao tính chất quí báu của Ngài. Khi tính chất quí báu của Đấng Christ được truyền vào chúng ta qua sự rao giảng Phúc Âm, tự phát chúng ta đánh giá cao Chúa và kêu cầu Ngài. Đó là đức tin thật. Khi tin như vậy, chúng ta và Đấng Christ trở nên một. Vì vậy, Đức Chúa Trời phải kể Đấng Christ là sự công chính của chúng ta. Tóm lại, xưng công chính bởi đức tin không chỉ là vấn đề địa vị, và còn là vấn đề hữu cơ, vấn đề trong sự sống. Sự liên hiệp hữu cơ với Đấng Christ tự phát được hoàn thành bởi đức tin sống động được sản sinh do chúng ta đánh giá cao về Ngài. Đó là dược xưng công chính bởi đức tin nơi Đấng Christ.
2 – Con Người Có Sự Sống Và Sống Bởi Đức Tin
Trong gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời, con người cũng có sự sống bởi đức tin và sống bởi đức tin. Trong Ga 3:11 Sứ đồ Phao Lô nói: “người công nghĩa (công chính) sẽ sống bởi đức tin”. Từ “sống” ở đây ngụ ý có sự sống. Do sự liên hiệp hữu cơ chúng ta có sự sống trong mình. Hơn nữa chúng ta sống bởi đức tin, mà đức tin ấy là việc chúng ta đánh giá cao về sự quí báu của Chúa Giê-Xu. Không những chúng ta có sự sống mà còn sống bởi sự sống. (Tham khảo Ga 2:20).
3 – Con Người Chết Với Kinh Luật Để Có Thể Sống Với Đức Chúa Trời
Trong Galai 2:19, Sứ đồ Phao Lô nói: “Vì bởi Kinh Luật tôi đã chết đối với Kinh Luật, để tôi được sống đối với Đức Chúa Trời”. Rất khó giải thích theo giáo lý ý nghĩa của việc chúng ta chết đối với Kinh Luật để có thể sống cho Đức Chúa Trời. Hữu ích nhất là xem xét điều này trong ánh sáng của kinh nghiệm chúng ta. Kinh nghiệm Cơ Đốc chứng minh rằng ngay khi sự liên hiệp hữu cơ của chúng ta với Đấng Christ xảy ra, chúng ta cảm nhận mình chết với thế gian, tội, bản ngã và tất cả những ràng buộc của Kinh Luật. Đồng thời chúng ta cũng nhận biết sự sống động đối với Đức Chúa Trời. Có lẽ khi mới nhận biết điều này, chúng ta không có kiến thức hay từ ngữ chuyên môn để giải thích. Có lẽ anh chị em nói: “Chúa Giê-Xu ơi, từ nay con không quan tâm đến điều gì khác hơn Ngài, con chỉ quan tâm đến Ngài”. Đó chính là chết đối với mọi sự để sống cho Đức Chúa Trời.
4 – Con Người Có Đấng Christ Sống Bên Trong
Là những người chết đối với Kinh Luật và sống cho Đức Chúa Trời, chúng ta có Đấng Christ sống bên trong. Trong Ga 2:20, Sứ đồ Phao Lô nói: “Tôi đã bị đóng đinh với Christ trên thập tự giá, dầu vậy tôi sống, nhưng không phải là tôi sống nữa, bèn là Christ sống trong tôi”. Đó chính là khía cạnh cơ bản của lẽ thật Phúc Âm.
5 – Con Người Trở Nên Một Sáng Tạo Mới
Một khí cạnh khác của lẽ thật Phúc Âm là trong Đấng Christ, con người là một sáng tạo mới. Galati 6:15 chép: “Vì chịu cắt bì hay không chịu cắt bì cũng chẳng quan hệ gì, quan hệ là người được dựng nên mới (sáng tạo mới). Sáng tạo mới này là sự hòa quyện của Đức Chúa Trời với con người. Sáng tạo mới này xảy ra khi Đức Chúa Trời Tam- nhất trong Đấng Christ được đem vào trong bản thể của chúng ta qua Linh (Thánh Linh). Đó là sự hòa quyện của Thần tính với nhân tính. Sống trong sáng tạo mới như vậy vượt xa việc giữ Kinh Luật. Khi tín đồ Galati trở về với Kinh Luật là khờ dại biết bao! Họ nên ở lại trong Đấng Christ bởi đức tin. Trong sự liên hiệp với Đấng Christ như vậy, Đấng Christ sống trong chúng ta và chúng ta trở nên một sáng tạo mới. Mặc dầu vẫn là tạo vật của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta được hòa quyện với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Vì là một với Đấng Tạo Hóa nên sự sống của Ngài trở nên sự sống của chúng ta, và đời sống của chúng ta trở nên đời sống của Ngài. Sự hòa quyện này sinh ra một sáng tạo mới. Điều này không được hoàn thành bởi công việc của Kinh Luật, nhưng bởi đức tin nơi Đấng Christ.
Trên đây là những khía cạnh quan trọng của lẽ thật Phúc Âm mà Đức Chúa Trời đã mạc khải cho Sứ đồ Phao Lô. Khi nghiên cứu về các thư tín của ông, chúng ta thấy Đức Chúa Trời bày tỏ sự mầu nhiệm của Ngài qua mỗi thời đại khác nhau, để qua đó con người có thể hiểu biết, để sống đúng theo mục đích của Ngài. (Trong thời đại bốn sách Phúc Âm ghi chép là thời đại Con Đức Chúa Trời trở nên Con người và sống trong xác thịt. Thời đại các thư tín là thời đại Con Đức Chúa Trời trở nên “Linh ban sự sống”. ICor 15:45).
Nguồn: Tim Huynh

“Giô-sép bị đưa xuống Ai-cập. Ông Pô-ti-pha thái giám của Pha-ra-ô và chỉ huy thị vệ, một người Ai-cập, đã mua cậu từ tay người Ít-ma-ên là những người đã đưa cậu xuống đó. ĐỨC CHÚA ở với Giô-sép và cậu là một con người thành công; cậu ở trong nhà chủ cậu, người Ai-cập.” (Sáng thế ký 39:1-2 BCG)
Thành Công Là Kết Qủa Của Việc Bạn Có Ai Ở Cùng
 ---------------------------------------------
Sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời bạn là lý do khiến bạn thành công!
---------------------------------------------
Từ Sáng-thế-ký đoạn 39:2, ta thấy rõ ràng thành công không phải là những gì bạn có, mà là ai ở cùng bạn! Thực tế là Giô-sép không có gì về phương diện vật chất nhưng đồng thời ông lại có tất cả vì Chúa ở cùng ông. Của cải, vật chất mà mà thâu trử hay cố gắng tích luỹ một cách nhanh chóng không làm bạn thành công. Nhưng chính sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời bạn mới là lý do khiến bạn thành công!
Chúng ta nên dừng việc theo đuổi của cải vật chất và bắt đầu theo đuổi chính Chúa. Đức Chúa Trời coi mối quan hệ giữa bạn với Ngài là điều duy nhất mà bạn cần cho mọi sự thành công trong cuộc đời bạn. Tôi không thể nào tưởng tượng được điểm xuất phát nào tồi tệ hơn khởi điểm của Giô-sép. Ông hoàn toàn trần trụi. Ông không có gì cả! Không có tài khoản ngân hàng, không có bằng đại học, không có kết nối nào với những người có tầm ảnh hưởng, không có gì cả. Cảm ơn Chúa vì Kinh thánh ghi lại một hình ảnh của một Giô-sép người bắt đầu với hai bàn tay trắng, để hôm nay bạn và tôi có thể có hy vọng. Nếu bạn nghĩ mình không có gì, giống như Giô-sép, bạn có thể bắt đầu tin vào quyền năng trong sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời bạn.
Hãy bắt đầu chăm nhìn Chúa Giê-xu và công bố chiếm lấy những lời hứa trong Kinh thánh cho chính bạn.

Hãy để tôi chỉ cho bạn cách nào bạn có thể cá nhân hoá lời hứa này trong cuộc đời bạn. Hãy điền tên của bạn vào trong lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho bạn:
     “ Chúa ở cùng____________, và tôi là một người thành công.”
     Và bây giờ, bạn hãy tự đọc lời hứa này thật to. Hãy đọc to như vậy hàng trăm lần nếu bạn cần, và bắt đầu nhìn thấy nó trên thực tế. Hãy dán lời hứa này trên gương của bạn để mỗi buổi sáng khi bạn đánh răng, chải đầu hãy nhắc nhở chính bạn rằng, hôm nay khi bạn đi làm, đi học, bắt đầu chăm sóc con cái ở nhà (hoặc là làm bất cứ việc gì mà bạn cần phải làm), thì Chúa đều ở cùng bạn. Và bởi vì Ngài ở cùng bạn, BẠN ĐÃ LÀ NGƯỜI THÀNH CÔNG! Khi bạn có Chúa Giê-xu trong cuộc đời bạn, bạn không còn phải cố gắng để thành công; BẠN LÀ NGƯỜI THÀNH CÔNG.
Cứu Rỗi Bạn Là Công Việc Của Đức Chúa Trời
Để tôi chia sẽ với bạn một lẽ thật đầy quyền năng ẩn dấu trong sự giáng sinh của Chúa Giê-xu. Khi Mari được hứa gả cho Giô-sép, trước khi họ ăn ở cùng nhau như vợ chồng, cô nhận biết mình đã mang thai bởi quyền phép Đức Thánh Linh. “Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để cô bị sỉ nhục công khai.” (Mathiơ 1:19)
Hãy để ý ở điểm này, Giô-sép cũng chưa hề hay biết là đứa con mà Mari đang mang thai là bởi quyền phép Đức Thánh Linh. Ông nghĩ rằng chắc Mari đã phạm sự gian dâm. Tuy nhiên người công nghĩa này không nở để cô bị sỉ nhục trước công chúng. Trong thời đó, nếu ai đó bị phát hiện quan hệ tình dục trước hôn nhân, thì chắc chắn sẽ bị ném đá đến chết. Đó là truyền thống văn hoá và luật lệ của người Do-thái lúc bấy giờ. Nhưng Giô-sép yêu Mary, vợ tương lai của mình, nên muốn làm hết khả năng mà ông có thể để bảo vệ nhân phẩm và mạng sống của cô ấy.
Khi Giô-sép đang suy tính những việc ấy, một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng người trong một giấc mơ, và phán rằng: “Giô-sép, con cháu Đa-vít! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai; hãy đặt tên là Giê-xu [Jesus] vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi.” ( Ma-thi-ơ 1:20-21) Danh “Giê-xu” là Yeshua trong tiếng Hê-bơ-rơ, là chữ có chứa từ viết tắc của chữ Yăhweh, là  danh của Đức Chúa Trời trong tiếng Hê-bơ-rơ. Vậy danh “ Giê-xu” nghĩa là “ Yăhweh là Đấng Cứu Thế của chúng ta” hay là “ Chúa là Đấng Cứu Thế của chúng ta”! Quả là một danh tuyệt đẹp!
Mỗi lần bạn kêu cầu danh Chúa Giê-xu, là danh trên hết mọi danh, là bạn đang kêu đích danh Đức Chúa Trời đến để cứu bạn. Cứu rỗi bạn là công tác của Chúa Giê-xu! Bất kể bạn đang ở trong thách thức nào, hoàn cảnh nào, hoặc bất kỳ khủng hoảng mà bạn đang đối mặt – có thể là về sức khoẻ, tài chính hay tình cảm – bạn có thể kêu cầu danh Chúa Giê-xu và chính Đức Chúa Trời Toàn Năng sẽ cứu bạn ra khỏi!
Bạn của tôi ơi, bạn có thể phải dành thì giờ để biết các danh xưng của Đức Chúa Trời, những danh xưng mà Ngài đã bày tỏ dưới giao ước cũ, chẳng hạn như là Elohim, El Shaddai, El Elyon, Jehovah-Jireh, Jehovah-Rophe và Jehovah-Nissi. Bạn có thể học cho đến khi hoàn tất các danh xưng của Đức Chúa Trời. Tôi không bài xích đều đó. Tôi cũng dạy về các danh xưng của Đức Chúa Trời trong hội thánh tôi, nhưng tất cả những danh xưng đó sẽ trở nên vô nghĩa nếu như bạn không biết rằng chính Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Giê-xu, là Đấng muốn cứu bạn ra khỏi mọi xiềng xích của tội lỗi trước hết, và sau đó là giải cứu bạn ra khỏi những thách thức khác của bạn.
Đức Chúa Trời có đầy quyền năng, nhưng nếu bạn không tự tin rằng Ngài quan tâm, vui thích với sự thành công của bạn, thì quyền năng của Ngài sẽ trở nên vô ích với bạn. Vì vậy, bạn không cần phải thuộc lòng tất cả các danh xưng của Đức Chúa Trời trong cựu ước. Những gì bạn cần là sự mặc khải đầy trọn về Giê-xu, trong giao ước mới, là Đấng Cứu Thế của bạn! Bạn có biết Tiger Woods nổi tiếng về phương diện nào không? Về môn Golf! Còn David Beckham? Bóng đá! (Không, anh ta nổi tiếng về quảng cáo sản phẩm hàng hoá!) Còn Chúa Giê-xu nổi tiếng gì bạn biết không? Ngài nổi tiếng là Đấng Cứu Rỗi bạn đó!
Chưa Phải Là Hết Khi Chúa Ở Cùng Bạn
Bạn có biết bất kỳ ai từng ở trong hoàn cảnh tồi tệ như Giô-sép ở điểm này không? Cả thế giới dường như đã sụp đổ xung quanh chàng rồi. Chỉ vài ngày trước đây, chàng còn được cha ôm ấp trong vòng tay cha nhưng giờ đây các anh chàng đã bán chàng rồi. Tất cả những gì chàng có đã bị lột trần. Chàng không còn gì hơn là một nô lệ ở xứ ngoại bang.
---------------------------------------------
Không phải những gì bạn có mà là ai ở cùng bạn khiến mọi chuyện khác hẵn.
---------------------------------------------
Phải chăng cuộc đời Giô-sép đến đây là hết? Về phương diện tự nhiên, thì đúng là đời Giô-sép đến đây là chấm hết. Dường như bi kịch đã đổ trên mình Giô-sép rồi, nhưng Chúa chưa cho phép chấm hết tại đây. Chúng ta đã học trong chương trước, là dù cho hoàn cảnh tồi tệ như vậy, thì Chúa vẫn ở cùng Giô-sép, tại thời điểm đen tối và cơ hàn của cuộc đời Giô-sép, Chúa gọi chàng là người thành công! Hãy nhớ rằng không phải những gì bạn có mà là ai ở cùng bạn khiến mọi chuyện khác hẵn.
“Làm thế nào mà Chúa có thể khiến một tên nô lệ không xu dính túi trở nên người thành công?”
Nào, chúng ta hãy tiếp tục với chuyện đời Giô-sép. Trong sách Sáng-thế-ký39:3 nói rằng: “Chủ thấy CHÚA ở với chàng trong mọi việc chàng làm, khiến việc gì chàng chịu trách nhiệm cũng đều được thành công.”  Qủa là một lời xác nhận đầy quyền năng và nó tạo cho bạn một lời hứa rằng bạn có thể tin vào Chúa Giê-xu cho mọi lĩnh vực trong cuộc đời bạn. Bạn có thể tưởng tượng được là mọi dự án, công tác, và ngay cả những việc vặt mà bạn đảm nhận đều được thành công không? Đôi tay của bạn trở nên đôi tay của phước hạnh. Bạn chạm vào các thành viên trong gia đình bạn và họ được phước. Công ty của bạn có thể đang cố gắng hết sức để xoay xở những dự án khó, nhưng một khi nó được đặt vào tay bạn, dự án ấy trở nên được phước. Bạn trở nên nguồn phước chờ đợi để tuôn đổ trên người khác, tuôn tràn khắp nơi, mọi nơi mà bạn đến.
NCC

Ðó là chữ thường thấy trong Tân, Cựu Ước: hoặc dùng để chỉ về người cho ân điển, hoặc chỉ về Chúa ban ân điển.

Ân điển của Chúa là lời nói, việc làm Ngài tỏ ra có tánh chất yêu thương người, chẳng những yêu thương người lành, mà cả kẻ dữ nữa.

Ân điển rõ hơn hết tức là cái ơn cứu rỗi. Ðức Chúa Trời là Ðấng Toàn năng thương xót, nhơn lành, dung thứ, nhịn nhục, thành thực ban ân điển cho người ta đến hàng ngàn đời, tha thứ hết mọi tội lỗi (Xuất Ê-díp-tô ký 34:6, 7.).

Nay xét kỹ ý nghĩa về chữ ân điển nầy, rồi chia làm hai phần mà nói:

I. Cựu Ước.

Luật pháp đã ban cho bởi Môi-se; còn ân điển và chân lý thì đến bởi Chúa Jêsus Christ (Giăng 1:17).

Dầu vậy, Cựu Ước cũng có Ðức Chúa Trời tha tội người ta là vì ban cho ân điển, chớ không phải vì theo luật pháp (Thi Thiên 32:; 130:;143:).

Thủy tổ dầu phạm tội, song Chúa vẫn ban ơn, hứa cho hưởng ân điển (Sáng thế ký 3:14, 21);
Nô-ê được ơn (Sáng thế ký 6-8);
Áp-ra-ham cũng được ơn (Sáng thế ký 15:1, 8);
Môi-se cũng được ơn (Xuất Ê-díp-tô ký 33:17);
Y-sơ-ra-ên, dân lựa chọn, cũng được ơn (Xuất Ê-díp-tô ký 19:5).
Các tiên tri làm sách cũng chú trọng đến ân điển, hằng nói Ðức Chúa Trời đãi người Y-sơ-ra-ên có ân điển vô cùng (Ê-sai 63:7).
Dẫu Chúa phải nổi giận vì họ phạm tội, song Ngài cũng đem lòng thương xót (Ga-la-ti 3:31,32; Giô-ên 2:13; Mi-chê 7:18, 19; Ha-ba-cúc 3:2). Tiếc rằng họ luôn được ơn Chúa, nhưng thường hay phụ nghĩa vong ân (Ê-sai 43:21-25; 44:1-5; 48:8-11; Giê-rê-mi 18:8-11; Ê-xê-chi-ên 16: và coi thêm Thi Thiên 78:).

II. Tân Ước.

Chữ "ân điển" nói trong Tân Ước đáng chú trọng hơn trong Cựu Ước; vì Phao-lô thích dùng chữ "ân điển" nầy lắm. Thơ của Phao-lô thường thường dùng "ân điển" làm lời mở đầu và kết luận. Chữ "ân điển" đó là nói gồm hết ích lợi mà Ðức Chúa Trời đã nhơn Ðấng Christ mà ban cho. Chữ "ơn" nói trong bốn sách Tin Lành không phải chỉ về ý như Phao-lô đã nói, trừ ra Giăng 1:14-17.

Trong sách Sứ đồ có vài chỗ nói đến ân điển thấy gần giống ý của Phao-lô; song xét ra chưa chắc đã không có nơi khác (Công vụ các sứ đồ 6:8; 11:23; 13:43;14:3; 15:11; 20:24, 32).
Thơ Hê-bơ-rơ, I Phi-e-rơ, II Phi-e-rơ, Giu-đe, II Giăng, Khải Huyền đều có chữ ân điển đó.

Luận về ân điển ấy, có hai chỗ cần yếu là Tít 2:11-14; Rô-ma 5:16, ta nên tra cứu kỹ càng. Phao-lô đi Ða-mách, giữa đường gặp Chúa, mới hiểu thấu ân điển lớn lao của Ngài (I Cô-rinh-tô 15:9, 10; I Ti-mô-thê 1:13-16), nên ông cho việc làm chứng về ân điển trong đạo Tin lành là thiên chức của mình (Công vụ các sứ đồ 20:24).

Ân điển trái với tội lỗi.--  Ðức Chúa Trời lấy ân thắng tội (Rô-ma 5:20; 6:1, 15). Ấy vậy, điều mà luật pháp không thể làm trọn, thì ân điển làm cho được trọn (Rô-ma 7:7-8:4). Phao-lô luôn nói người xưng công bình được cứu là nhờ ân điển, chớ không phải nhờ theo luật pháp (Ê-phê-sô 2:8; Tít 2:11; Rô-ma 4:2-8; 11:6; Ga-la-ti 2:16-21).

Vì luật pháp sanh ra sự giận, thế là trái nghịch với ân điển (Rô-ma 3:19-26; 4:15; Ga-la-ti 5:4). Vậy nên ai tin Chúa Jêsus, nấy được nhận lãnh ân điển và sự ban cho công bình (Rô-ma 5:17).
Phao-lô nói đến ân điển của Ðức Chúa Trời hai mươi hai lần, nói đến ân điển Ðấng Christ mười lăm lần, xét ra có bốn yếu chỉ nầy:

1. Ân điển Ðấng Christ là rất lạ: hạ mình, khiêm nhường (II Cô-rinh-tô 8:9; Phi-líp 2:5-8; Ga-la-ti 2:21).

2. Ân điển Ðấng Christ là được nhưng không chớ không phải phí tổn gì (Rô-ma 3:24; 4:4; 11:6; Ê-phê-sô 2:8).

3. Ân điển Ðấng Christ  thắng tội lỗi (Rô-ma 5:15, 20).
Có hai thuyết:

(a) Ân điển chẳng những tha tội, mà lại có thể xưng công bình (Ê-phê-sô 1:7; Rô-ma 3:24; 5:21; Ga-la-ti 2:21),

(b) Ân điển  cất bỏ cái ách tội lỗi (Rô-ma 6:14).

4. Ân điển Ðấng Christ giàu có không đo được (Ê-phê-sô 1:7; 3:8; Rô-ma 5:17; II Cô 4:15). Cho nên Phao-lô muốn nói bao gồm mọi thứ hạnh phước của Ðấng Christ trong một lời nầy: "Nguyền xin ơn của Ðức Chúa Jêsus Christ ở với anh em". (Rô-ma 16:20; I Cô-rinh-tô 16:23; Ga-la-ti 6:18; Phi-líp 4:23; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:28; II Tê-sa-lô-ni-ca 3:18; II Ti-mô-thê 4:22; Phi-lê-môn 25).

Tiến sĩ Scofield có lời ghi chú về Giăng 1:16 "ơn càng thêm ơn".

Tóm tắt lại:

I.   Ơn là "lòng nhơn từ của Ðức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình yêu thương của Ngài đối với mọi người...không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm..." (Tít 3:4, 5). Ấy vậy, ân điển vẫn trái với luật pháp, vì dưới luật pháp, Chúa đòi sự công bình nơi loài người, song dưới ân điển, Chúa ban sự công bình cho loài người (Rô-ma 3:21, 22; 8:4; Phi-líp 3:9).

Luật pháp can thiệp với Môi-se và việc làm ân điển can thiệp với Ðấng Christ và đức tin (Giăng 1:17; Rô-ma 10:4-10).

Luật pháp chúc phước người tốt lành; ân điển cứu rỗi người gian ác (Xuất Ê-díp-tô ký 19:5; Ê-phê-sô 2:1-9).

Luật pháp đòi phải làm để lãnh phước; ân điển là sự ban cho nhưng không (Phục truyền luật lệ ký 28:1-6; Ê-phê-sô 2:8; Rô-ma 4:4, 5).

II.   Thời đại ân điển:

 bắt đầu từ sự chết và sự sống lại của Ðấng Christ (Rô-ma 3:24-26; 4:24-25). Trung tâm điểm của sự thử biết thật được cứu rỗi không phải là vâng lời luật pháp, song là nhận hay chối Ðấng Christ với kết quả của sự cứu đó là những việc lành (Giăng 1:12, 13; 3:36; Ma-thi-ơ 21:37; 22:42; Giăng 15:22, 25; Hê-bơ-rơ 1:2; I Giăng 5:10-12).

Lúc đó, kết quả ngay của sự thử biết đó là người Do thái chối bỏ Ðấng Christ, và với người ngoại bang cùng đóng đinh Chúa trên cây thập tự (Công vụ các sứ đồ 4:27). Theo lời tiên tri, sự thử loài người trong thời đại ân điển nầy sẽ có kết quả là Hội Thánh bề ngoài sẽ chối bỏ chúa (II Ti-mô-thê 3:1-8:4:3-4), và bị đoán phạt như chép trong sách Khải Huyền v.v...   

III. Sự cứu rỗi được tỏ ra hai cách:

Trong sự cứu rỗi (Rô-ma 3:24) và trong sự bước đi hầu việc của người được cứu (Rô-ma 6:15). Có sáu thời đại khác nữa:

vô tội (Sáng thế ký 1:28);
lương tâm (Sáng thế ký 3:23);
loài người quản trị (Sáng thế ký 8:21);
lời hứa (Sáng thế ký 12: 1);
luật pháp (Xuất Ê-díp-tô ký 19:19);
nước Chúa (Ê-phê-sô 1:10).


Mục sư: Lê Văn Thái


Kinh Thánh tuyên bố một cách rất rõ ràng rằng chúng ta cai trị trong sự sống qua Chúa Giê-xu Christ chỉ bởi việc nhận lấy 2 điều từ Ngài là : Ân sủng dồi dào và Món quà của sự công chính. Cách của Đức Chúa Trời thì trái ngược với cách của con người. Con người thì nghĩ rằng để Chúa ban phước thì họ cần phải làm cái gì đó xứng đáng, và Chúa sẽ ban ân huệ và phước hạnh của Ngài tương xứng với những gì mà họ đã nỗ lực, cố gắng. Con người nghĩ rằng Đức Chúa Trời ban phước dựa trên công đức và những việc tốt mà họ làm.
    Tuy nhiên, đây không phải là cách của Đức Chúa Trời. Cách của Ngài không phải là giành được mà chỉ là đón nhận lấy. Ngài đã hứa rằng khi chúng ta đón nhận lấy ân sủng dồi dào và món quà của sự công chính thì chúng ta sẽ cai trị trong sự sống. Ngài không nói rằng khi chúng ta giành lấy ân sủng và sự công bình riêng của chúng ta thì chúng ta sẽ cai trị trong sự sống. Nhưng vì một vài lý do nào đó mà nhiều Cơ-đốc-nhân vẫn tiếp tục sống dựa trên một hệ thống của sựgiành lấy!
    “Mục sư Prince ơi, nếu thật sự là dễ dàng như vậy thì tại sao không có nhiều Cơ-đốc-nhân cai trị trong sự sống?”
    Tôi rất vui nếu bạn đặt một câu hỏi như vậy. Khi trả lời, hãy để tôi được đưa ra một câu hỏi của tôi nhé: Bạn có thật sự nhận ra rằng nhiều người tin rằng một người cần phải thật nỗ lực để giành lấy sự thành công trong cuộc sống không? Đối với hệ thống của thế gian này thì sự thành công được xây dựng trên 2 nền tảng là nỗ lực cá nhân và sự siêng năng, cần cù. Luôn phải có một vài “luật lệ” để bạn phải vâng theo, và kèm với vài “phương pháp và kỹ năng” để bạn phải giữ và thực tập trước khi có thể đạt được bất cứ một kết quả nào. Hầu hết, các kết quả mà bạn đạt được sẽ bắt đầu giảm dần cho đến lúc bạn ngưng thực hành theo các phương pháp và các bước đã được quy định sẵn.
    Chúng ta đã nói về việc tập chú trên việc giành lấy, trên việc làm và trên việc cậy vào những nỗ lực của bản thân. Chúng ta thường nỗ lực “làm, làm, làm” nhưng quên mất rằng Cơ-đốc-giáo lại là “xong, xong, xong”. Thế gian này thì bảo rằng bạn càng làm bao nhiêu, bạn càng cật lực trong công việc bao nhiêu, và bạn càng đầu tư nhiều thời gian vào bao nhiêu thì bạn sẽ càng giành lấy được nhiều sự thành công bấy nhiêu. Cách của thế gian này là thúc giục bạn phải làm việc cật lực hơn đến nỗi quên cả đến Hội Thánh trong ngày Chủ Nhật, không còn thời gian cho vợ, chồng, con cái và để mất nhiều thời giờ nơi công sở suốt cả đêm, những ngày cuối tuần và cả những ngày nghỉ lễ. Tôi chắc rằng bạn đã từng nghe rằng bạn cần phải “trả giá” để sau mọi sự đó bạn “không còn gian khổ” nữa, đúng không?
    Những gì mà các tín hữu làm ngày hôm nay, đó là họ đã đem hệ thống của thế gian áp dụng vào trong đời sống Cơ-đốc của họ. Thay vì lệ thuộc vào nguồn ân sủng của Đức Chúa Trời để ân huệ và phước hạnh của Ngài tuôn chảy, họ lại dựa trên nỗ lực của cá nhân cố gắng để có thể xứng đáng nhận được ân huệ và phước hạnh của Đức Chúa Trời. Vâng, cách của Đức Chúa Trời không phải là Ngài ban phước cho chúng ta dựa trên công trạng, việc làm của mình. Bạn không thể nào nhận lấy phước hạnh của Chúa bằng việc làm của mình. Phước hạnh của Đức Chúa Trời đặt trên nền tảng là ân sủng trọn vẹn, toàn hảo của Ngài. Phước hạnh của Chúa tuôn tràn trên đời sống bạn để bạn không còn phải làm gì đó mới được xứng đáng, không phải là bởi cố gắng, nỗ lực hay bởi công trạng, việc làm nữa. Không có bất cứ điều gì mà bạn có thể làm để xứng đáng được hưởng phước hạnh của Chúa. Tất cả chúng ta đều phải dựa trên việc nhận lấy Chúa Giê-xu,công việc hoàn tất của Ngài, ân sủng dồi dào và món quà của sự công chính.
    Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải dừng lại việc cố gắng để giành lấy mà hãy bắt đầu đón nhận lấy ân huệ, phước hạnh, sự chữa lành mà Chúa Giê-xu đã hoàn tất tại thập tự giá. Khi Ngài bị treo trên thập giá cách đây khoảng 2000 năm, Chúa đã kêu lớn tiếng rằng : “Mọi sự đã được trọn!”3. Mọi thứ mà bạn và tôi cần có để cai trị trong sự sống đều đã được hoàn thành ngay tại thập tự giá vì cớ lợi ích của chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta gọi những gì mà Chúa Giê-xu đã làm trên thập tự là “công việc hoàn tất” của Ngài! Chúa đã hoàn thành tất cả. Ngài đã thực hiện cách hoàn hảo. Mọi sự đã XONG rồi! Chỉ có một thứ duy nhất về việc làm, đó chính là công việc đã hoàn tất! Đừng tiếp tục làm những gì đã được HOÀN TẤT. Đừng làm nữa và hãy bắt đầu đón nhận lấy những gì mà 
Chúa Giê-xu đã HOÀN TẤT!
Công Việc Đã Được Hoàn Tất, Ngồi Xuống
    Tôi có một mối thông công thường xuyên với một người bạn thân là Brian Houston và anh ấy đã chia sẻ với tôi về sự khó chịu của anh khi hát những bài hát thờ phượng có tính chất cố gắng cầu xin về những gì mà Chúa Giê-xu đã hoàn tất tại thập tự giá. Tôi hoàn toàn đồng ý với Brian và tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều đồng ý rằng Brian là một người hiểu được những gì mà ông đang nói đến, khi ông nói về những bài ca dùng để thờ phượng Chúa. Brian là Mục sư quản nhiệm của Hội thánh Hillsong và Đức Chúa Trời đã thật sự xức dầu cho Hội thánh của ông để viết ra những bài hát thờ phượng ngợi khen thật tuyệt vời, đã ảnh hưởng, đụng chạm cả một thế hệ mới của những người thờ phượng trong những ngày cuối cùng này. Thật sự, một số bài hát thờ phượng yêu thích của tôi là những bài hát từ Hội thánh Hillsong. Trong những giây phút yên tĩnh của tôi trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, như là lời cảm tạ Ngài về sự trả giá trọn gói trên thập tự cho tất cả mọi tội lỗi, bịnh tật, nghèo đói của tôi, trái tim tôi tràn đầy sự biết ơn và tôi cất tiếng ca ngợi Ngài:
Ngài thật vĩ đại thay, đời đời
Tuyệt vời, vinh hiển
Giê-xu
Không một ai có thể sánh với Ngài
Giê-xu4
    Ôi! Tôi thật yêu mến biết bao khi Đức Chúa Trời đáp ứng tôi bằng cách làm đầy trong những suy tư của tôi với sự hiện diện thực hữu của Ngài và tấm lòng tôi bắt đầu bùng cháy trong sự hiện diện của Đấng tôi yêu! Tôi đã nhắc nhở với Hội thánh tôi rằng chúng ta không luôn luôn có thể cảm nhận được sự hiện diện thực hữu của Chúa(bằng mắt thấy)chú thích của dịch giả vì đó không phải là những gì mà chúng ta sống bởi trong ngày hôm nay.(chúng ta sống bởi đức tin). Nhưng khi nào mà bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện thực hữu của Chúa – đặc biệt là trong suốt thời gian thờ phượng cách sâu lắng, riêng tư – hãy vui thỏa Ngài, thưởng thức tình yêu của Chúa và hãy để cho Ngài được ôm bạn trong vòng tay âu yếm! Hãy thích thú khoảng thời gian mà bạn ở trong sự hiện diện của Chúa khi mà Ngài làm tươi mới, phục hồi và chữa lành bạn. Bạn không phải đợi đến Chúa Nhật mới thờ phượng Chúa. Bạn cũng không cần phải có một ban nhạc thật đầy đủ, tiện nghi và một người hướng dẫn thờ phượng để thờ phượng Đấng Cứu Chuộc của bạn. Phải, dù bạn đang ở đâu, không cần bất cứ nhạc cụ nào, bạn cũng có thể dùng đôi tay, tiếng hát, hay tấm lòng đầy xúc cảm của bạn để thờ phượng Ngài và dâng lên Chúa lời cảm tạ về công việc hoàn tất của Ngài cùng ân sủng lớn lao của Chúa trong đời sống bạn.
    Ha-lê-lu-gia! Chúa thật tuyệt vời!
    Tôi yêu thích những bài hát thờ phượng ca ngợi sự trọn vẹn, toàn hảo của Chúa Giê-xu và về công tác hoàn tất của Ngài. Trong Hội thánh tôi, tôi đã ủy thác cho những người soạn nhạc phải đảm bảo rằng những bài hát mà chúng tôi sử dụng trong Hội thánh trong các buổi thờ phượng phải là những lời chứng về công tác hoàn tất của Chúa Giê-xu. Chẳng hạn, trong giao ước mới chúng ta không cần phải nài xin Chúa trong những bài hát về sự tha thứ nữa bởi vì Ngàiđã tha thứ cho chúng ta rồi!5Tôi muốn bạn hãy nói lớn lời này với tôi:
“Tôi đã được tha thứ”
Huyết của Chúa Giê-xu đã tẩy sạch chúng ta một lần và cho tất cả!
Lời của Đức Chúa Trời công bố điều này về công tác hoàn tất của Chúa Giê-xu trên thập tự giá:
Hê-bơ-rơ 10:12-14
12 “Bên kia, một Đấng dâng chỉ một sinh tế chuộc tội cho đến đời đời, rồi ngự trị bên phải Đức Chúa Trời. 13 Từ đó, Ngài chờ đợi cho đến khi các kẻ thù nghịch bị làm bệ dưới chân Ngài. 14 Vì dâng một tế lễ duy nhất, Ngài làm hoàn hảo vĩnh viễn những người được thánh hóa.” (BDM)
    Chúa đã hoàn tất công tác của mình tại thập tự giá qua việc dâng thân thể mình như là một của tế lễ ĐỜI ĐỜI và khi bạn tiếp nhận Chúa Giê-xu vào trong đời sống của mình, bạn đã trở nên HOÀN HẢO ĐỜI ĐỜI! Và đời đời là bao lâu? Tôi đã kiểm tra từ nguyên gốc trong tiếng Hy-lạp từ “đời đời” trong câu này và bạn biết không? “Đời đời” có nghĩa là đời đời! Bạn được hoàn hảo đời đời bởi sự tẩy sạch của huyết Chúa Giê-xu, không phải bởi huyết của con sinh tế – là thứ huyết không bao giờ xóa đi tội lỗi được!
    Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi nhận thấy rằng có rất nhiều tín hữu ngày nay không tin rằng họ đã được hoàn hảo đời đời bởi công tác hoàn tất trên thập tự giá của Chúa Giê-xu Christ. Họ vẫn còn tiếp tục cậy vào nỗ lực riêng để đánh giá chính họ. Có lẽ chính bạn cũng có thể kinh ngạc rằng: “Làm thế nào mà tôi có thể thật sự đảm bảo rằng tất cả mọi tội lỗi của tôi đều đã được tha thứ?” Đó là câu hỏi tốt! Bạn nên nhớ rằng Chúa Giê-xu sau khi Ngài dâng hiến chính mạng sống mình như là một của tế lễ và trả giá cho tất cả mọi tội lỗi của chúng ta, Ngài đã “ngồi xuống”!
    Ngài đã ngồi xuống bên tay hữu Đức Chúa Trời. Bạn có nhận thấy rằng trong giao ước cũ, “mọi thầy tế lễ phải đứng hầu việc mỗi ngàyvà dâng lặp đi lặp lại cùng một của tế lễ, là của lễ không bao giờ xóa đi tội lỗi được”?6 Nhưng Kinh Thánh đã tiếp tục nói rằng Chúa Giê-xu, sau khi “dâng chỉ một sinh tế chuộc tội cho đến đời đời, rồi ngự trị” (trong tiếng Anh là ngồi xuống).
    Chúa Giê-xu ngồi xuống để minh chứng cho chúng ta biết rằng công việc đã thật sự hoàn tất. Dưới giao ước cũ, thầy tế lễ là người phục vụ nơi hòm giao ước của Môi-se không bao giờ ngồi xuống, nhưng “đứng hầu việc hằng ngày” bởi vì công tác của họ không bao giờ hoàn tất được. Huyết của bò đực và dê đực “không bao giờ cất tội lỗi đi” được. Thực tế, bạn có để ý rằng trong nơi thánh của hòm giao ước thời Môi-se, có bất cứ một dụng cụ hay đồ vật nào được chuẩn bị để cho thấy tế lễ có thể ngồi xuống không? Bạn sẽ không tìm thấy bất cứ một cái ghế nào trong nơi thánh. Bạn sẽ tìm thấy lư hương, cây đèn và cả một cái bàn bánh trần thiết. Nhưng thật thú vị, ở đó chẳng hề có cái ghế nào. Đó là bởi công tác của những thầy tế lễkhông bao giờ là hoàn tất cả. Chỉ có duy nhất công tác của Chúa Giê-xu là công tác đã hoàn tất. Và không chỉ Chúa đã ngồi bên hữu Đức Chúa Trời không thôi, mà Ngài còn làm cho chúng ta được ĐỒNG NGỒI VỚI NGÀI nữa!
Ê-phê-sô 2:4-6
    4 “Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ – ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu – 6 và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.”
    Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên: “Chẳng lẽ mọi việc kinh doanh cũng đều phải “chờ đợi” và “ngồi xuống” hay sao? Rất tốt, bạn ơi! “Ngồi xuống” trong Kinh Thánh là một bức tranh của những người đã tin và an nghỉ nơi công tác hoàn tất của Chúa Giê-xu. Ngài đã hoàn thành tất cả mọi công việc thuộc về trách nhiệm của bạn tại nơi thập tự giá và bây giờ Ngài đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Khi nói mọi công việc của bạn đã được hoàn tất thì điều đó có nghĩa rằng bạn không cần phải dựa vào nỗ lực, cố gắng của bản thân để tìm kiếm hay xứng đáng để nhận phước hạnh từ Đức Chúa Trời trong đời sống của mình nữa. Bạn có thể đồng ngồi với Chúa Giê-xu ở bên hữu Cha Thiên Thượng.
    Bạn không cần phải dựa vào nỗ lực, cố gắng của bản thân để tìm kiếm hay xứng đáng để nhận phước hạnh từ Đức Chúa Trời trong đời sống của mình nữa.
    Bây giờ, xin hãy lắng nghe một cách cẩn thận về những gì mà tôi đang nói đây. Tôi không đang tán thành với những người có một lối sống thụ động và biếng nhác. Hiển nhiên, như vậy là bạn cần phải trải qua sự học tập, đọc sách và làm việc một cách siêng năng, nhưng đức tin của bạn không thể đặt trên những điều này. Đức tin của bạn phải được đặt trên những gì mà Chúa Giê-xu đã làm cho bạn. Vì vậy, ví dụ nếu bạn là một sinh viên thì tất cả có nghĩa là: học hết sức. Điểm cao sẽ là vinh hiển của Đức Chúa Trời! Nhưng không tin cậy vào sự khôn ngoan và khả năng riêng của mình để nhận phước hạnh từ Đức Chúa Trời.
    Ân sủng của Đức Chúa Trời không làm bạn trở nên lười biếng và không kết quả. Trái lại, ân sủng khiến cho bạn càng làm việc cách sung mãn, dư dật hơn cho vinh hiển của Đức Chúa Trời.
    Sứ đồ Phao-lô, một giáo sư về lẽ thật  ân sủng của Đức Chúa Trời và về công tác hoàn tất của Chúa Giê-xu, đã nói rằng “tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác” 7. Trong giao ước mới, cách của Đức Chúa Trời hành động là ban phước cho bạn trước và qua việc nhận biết được phước hạnh của Ngài sẽ giúp cho bạn có sức mạnh để làm việc  một cách tốt nhất. Một ý nghĩa khác, chúng ta không làm để được phước nhưng đúng hơn là chúng ta có quyền năng để làm việc tốt hơn bởi vì chúng ta đã được phước. Bạn có thấy một ý nghĩa hoàn toàn khác ở trong giao ước mới không?
    Nhiều tín hữu ngày hôm nay đã bị thất bại vì cớ họ đang vật lộn, đấu tranh để khiến mình xứng đáng với phước hạnh của Chúa trong công việc của họ. Nỗ lực cá nhân sẽ cướp đi quyền cai trị trong sự sống  bởi ân sủng của Chúa. Bạn không thể nào tạo ra sự cứu rỗi, sự chữa lành hay sự đột phá tài chính cho chính mình bởi nỗ lực của cá nhân. Nếu phép lạ lớn nhất – được cứu khỏi hồ lửa – đến bởi ân sủng qua đức tin chứ không bởi việc làm thì làm sao mà nó lại không xảy ra giống như vậy cho những phép lạ nhỏ hơn chẳng hạn như sự chữa lành, thịnh vượng và phục hồi hôn nhân.

    Bạn của tôi ơi! Chúa Giê-xu đã hoàn tất mọi thứ trên thập tự giá. Phần của chúng ta là tin cậy nơi công tác hoàn hảo của Ngài, mở rộng cánh tay để tiếp nhận ân sủng dư dật, món quà của sự công chính và bắt đầu cai trị trong sự sống qua một Đấng duy nhất là Chúa Giê-xu Christ. Ngày hôm nay, bạn hãy cầu nguyện để bạn có thể ngừng lại việc cố gắng, nỗ lực để tạo ra ân sủng của Đức Chúa Trời và sự công chính. Hãy để Đức Thánh Linh dạy bạn bắt đầu tin cậy vào công tác hoàn tất của Chúa Giê-xu và bắt đầu nhận lấy bởi ân sủng của Chúa. Đây là cách dễ dàng của Đức Chúa Trời để dẫn đến sự thành công, trọn vẹn và một đời sống đắc thắng! 

(Trích từ  Destined To Reign)